Video clip của Pháp Sư
Các bài viết của Pháp Sư
Video clip tham khảo
Đá quý phong thuỷ
Dịch học
Dự đoán số mệnh qua tên
Dự đoán tổng hợp
Hoành phi câu đối
Kê Túc (Xem chân gà)
Nhân tướng học
Nghi lễ dâng hương
Nhìn người đoán bệnh
Pháp khí phong thủy
Phép cân xương tính số
Phép đo tay tính số
Phép giải mộng
Phép xem chỉ tay
Phong Thủy
Phong Thủy Tổng Hợp
Phù Lưu Diệp
So tuổi vợ chồng
Tìm mộ liệt sĩ
Tín ngưỡng Phật giáo
Tổng hợp Văn khấn
Tử vi
Tứ trụ
Xem chữ kí
Xem giờ sinh và đặt tên cho con
Xem ngày lành tháng tốt
Xem sao và cách giải hạn
Xem tướng tay và chân
Tài liệu tham khảo
bambu advert
bambu.vn/118/thiet-ke-website.html
Dịch vụ thiết kế website Nhanh - Đẹp - Chất lượng với 9 năm kinh nghiệm phát triển
bambu.vn/118/thiet-ke-website.html
Dịch vụ thiết kế website Nhanh - Đẹp - Chất lượng với 9 năm kinh nghiệm phát triển
Mai hoa dịch số (P7) 8/15/2013 4:27:08 PM (GMT+7)

Năm sắc không dùng đến quái tượng luận, chỉ nhận thấy sắc gì thì cứ theo ngũ hành mà luận như: xanh, biếc,lục thuộc Mộc; hồng đỏ thuộc Hỏa; trắng thuộc Kim; đen thuộc Thủy; vàng thuộc Thổ.

 X.- Cần Xét Xem Màu Sắc Ứng

Năm sắc không dùng đến quái tượng luận, chỉ nhận thấy sắc gì thì cứ theo ngũ hành mà luận như: xanh, biếc,lục thuộc Mộc; hồng đỏ thuộc Hỏa; trắng thuộc Kim; đen thuộc Thủy; vàng thuộc Thổ.

Ngũ hành, ngoại ứng xét rõ Thể Dụng của Nội quái, sinh khắc tỵ hòa, cát hung sẽ thấy

Di Luận
(Bài luận để lại cho hậu thế)

Vạn vật quái số vốn do Dịch, nay đọc sách này, chỉ có lệ ngũ hành sinh khắc; pháp thuật về Tam yếu, Thập ứng, so với Dịch thì không giống nhau, vì sao vậy? Vì chưa có Dịch thư, đã có Dịch lý rồi. Dịch thư ra đời sau Tứ Thánh, còn Dịch lý soạn thuật trước Tứ Thánh. Nhân tâm đều có dịch lý, tức là Dịch vậy.

Phép chiêm bốc, không phải là không dùng quái, Quái tức là Dịch. Ví bằng được Dịch quái hào, xem ở Từ hào quái (Từ hào là lời dạy của hào) mà đoán cát hung, hối lậu rất là linh diệu chưa trải qua dùng Dịch. Lại xem ngũ vật của quái số (ngũ vật là ngụ ý vào các vật) ở thiên Bát quái thuộc vạn vật (trang 17), chỉ dùng Nội quái, mà chẳng dùng ngoại quái. Sao vậy? Vì sự khỉ quái là thuật khỉ quái đại khái bàn chung, còn Thập ứng lại là bí quyết trao truyền. Ví như chiêm Quan Mai hôm nay chiếm được quẻ Cách, biết được có thiếu nữ bẻ trộm bông và bị thương ở bắp vế, rồi ngày hôm sau cũng Quan Mai, cũng được quẻ Cách, rồi cũng bảo thiếu nữ bẻ bông; như thế có thể được sao?

Lại như chiêm Mẫu đơn, toán biết được Mẫu đơn bị ngựa dẫm nát, rồi hôm sau cũng toán Mẫu đơn, cũng bảo bị ngựa dẫm nát được sao? Không! Ắt phải suy tường cái lý.

Lại nữa, như quẻ Địa Phong Thăng là triệu không được ăn uống gì, mà biết có người tới mời. Như vậy, nếu không nhờ ngoại quái thì không thể toán được

Thể Dụng

Phàm chiếm thành quẻ rồi, phải vạch ra ba trùng là: Bổn quái, Hổ quái và Biến quái. Rồi ở Bổn quái phân ra Thể Dụng, như vậy là một Thể và một Dụng rồi dùng ngũ hành để biện lý sinh khắc tỵ hòa. Chỉ có Dụng quái cần thiết nhất, lại xem Hổ quái, Biến quái cũng là Dụng, ấy là nội quái Thể Dụng. Sau xem ứng quái cũng là Dụng, tức là hợp cả nội quái và ngoại quái Thể Dụng. Như vậy không phải chỉ có một Thể và một Dụng mà thôi, có thể nói một Thể có đến trăm Dụng vậy.

Sinh khắc, tức là chia Thể Dụng mà luận, ấy là luận sinh khắc, sinh Thể thì tốt, khắc Thể thì xấu, tỵ hòa thì tốt, khỏi phải bàn luận đến.

Nhiều quẻ sinh Thể thì rất tốt, nhiều quẻ khắc Thể lại rất xấu. Tuy vậy, nếu như có một quẻ sinh Thể, mà quẻ này lại bị các quẻ khác khắc nó thì có thể giảm bớt sự tốt đi.

Lại như có quẻ khắc Thể, mà quẻ lại bị các quẻ khác khắc nó thì có thể cứu vớt được sự cùng quẫn. Nếu có quẻ khác sinh nó thì tốt, mà khắc nó thì xấu. Ấy là cách sinh khắc của Thể Dụng vậy.

Tuy nhiên, lệ sinh khắc cũng có khi khỏi bàn đến Thể Dụng. Thí dụ:

Chiêm Thiên thời như quẻ Chấn tức là sấm; được quẻ Tốn tức là gió; gặp Khảm thì mưa; gặp Ly thì nắng. Đó lý tự nhiên, mà lại cũng chưa hẳn như vậy.

Nếu thấy trong quái có nhiều Càn hay Đoài thì dù có Chấn cũng không có sấm; và có Tốn cũng không có gió. Ấy là cũng ẩn ý của ngoại quái ứng, cũng như chiêm Mai, thấy thiếu nữ bẻ trộm bông; chiêm Mẫu đơn thấy ngựa dẫm hủy; thấy Địa Phong Thăng có triệu ăn uống.

Như vậy, nếu không có triệu Ngoại ứng thì làm sao quyết đoán được như vậy.

Thể Dụng Loại

Tâm Dịch dựa vào chư vật mà dùng lấy Thể làm chủ; tuy vậy người chỉ biết có một Thể, một Dụng mà không biết có một Thể mà cả trăm Dụng biến thông ra. Cùng một Thể mà biến thông; toàn quái là nội quái. Nội cũng chẳng phải là một Dụng mà Hổ Biến ra cũng là Dụng. Tam yếu và Thập ứng quái gọi là ngoại quái. Ngoại quái cũng chẳng đồng nhất, chẳng phải là không phải là Dụng vậy; ngụ vật học mà đạt thấu Thể Dụng rất là chí thuật, hiểu được Thập ứng cũng rất hiếm có, sau cùng Tam yếu lão thông, ấy mới là toàn thuật.

Chớ bảo Thể Dụng là Thể Dụng, Tam yếu là Tam yếu, chỉ lấy Thể Dụng mà đoán cát hung, lấy Tam yếu mà triệu cát hung. Mấy ai biết được đến chỗ cùng cực của Tam yếu, Thập ứng, Thể Dụng.

Than ôi! Thể Dụng không thể không có Tam yếu, Thập ứng không thể không có Thể Dụng. Thể Dụng, Tam yếu, Thập ứng lý dĩ nhiên không cách gian nhau được. Như vậy mới lột được tinh vi của khoa chiêm bốc của dịch vậy.

Lại như nhiều quẻ Càn Đoài thì Tốn không có gió; Khôn cấn nhiều thì Khảm khó mưa; Khảm nhiều thì Ly khó tạnh; vì Càn Đoài là Kim, khắc Chấn Tốn Mộc; Khôn cấn thổ khắc Khảm Thủy; Khảm Thủy khắc Ly hỏa. Như vậy phải nên thạo biến thông mới suy nghiệm được.

Lại như chiêm ẩm thực, có Khảm tất có rượu, có Đoài chắc có ăn; nếu gặp phải Khôn Cấn, thì dù có Khảm cũng không có rượu; nếu gặp phải Ly, có Đoài cũng chẳng có ăn. Như trên chỉ nêu hai thí dụ để suy nghiệm, để hiểu thêm sinh khắc của Tâm Dịch vậy.

Suy Vượng Luận

Đã tường sinh khắc, lại phải biết vượng suy.

Vượng là mùa Xuân thì Chấn Tốn Mộc; mùa Hạ thì Ly Hỏa; mùa Thu thì Càn Đoài; mùa Đông thì Khảm Thủy, bốn tháng tứ quý là Khôn Cấn Thổ.

Suy là mùa Xuân Khôn cấn; mùa Hạ Càn Đoài; mùa Thu thì Chấn Tốn; mùa Đông thì thì Ly, bốn tháng tứ quý là khảm.

Phàm chiêm quẻ, Thể quái nên khí thịnh vượng, khí đã vượng mà phùng sinh thì tốt, gặp trùng khắc thì xấu.

Nếu thể suy mà phùng khắc, lại càng rất xấu, còn Thể suy mà có quẻ sinh Thể, thì sự suy có thể giảm bớt xấu.

Đại để Thể quái cần phải vượng, khí quái của quẻ sinh Thể cũng phải vượng; quẻ khắc Thể phải nên khí suy.

Ấy là luận thịnh suy khí của Tâm Dịch

 

Nội Ngoại Quái Luận

Phàm phép chiêm bốc, Thể Dụng là nội quái, tất cả Ứng quái gọi là ngoại quái, đó là lệ thuật chiêm bốc, các ứng quái với Tam yếu và Thập ứng, đó là hợp chung cả nội ngoại quái mà đoán. Nếu chẳng biết hợp nội ngoại quái mà đoán cứ bảo Thể dụng là Thể Dụng, Tam yếu, Thập ứng là Tam Yếu, Thập ứng thì chẳng thể nào thấy hiệu nghiệm được. Song le Thập ứng ít kẻ biết cho tường tận, như đã nói ở mục Ảo Luận trước; vàng bạc là của báu, Tam yếu thì cho là tốt. Nhưng ví bằng, thể là Chấn Tốn thuộc Mộc, tất nhiên Kim khắc Mộc, thì trái lại là xấu. Binh đao đời cho là hung, Tam yếu cũng cho là hung, ví bằng Khảm là Thể thuộc thủy mà gặp Kim lại trở thành tốt.

Lại như chiêm sản (sinh đẻ) thấy namtử cho là có triệu tốt sinh con, nhưng giả thử Khảm là Thể, thiếu nam là Cấn (Thổ), tức là Thổ khắc Thủy, thì trái lại sự sinh đẻ chẳng được tốt.

Lại như chiêm bịnh, thấy áo quan thì cho là chết, nhưng ngược lại nếu Ly là Thể thì Mộc sinh Hỏa, đâu có chết.

Biết như vậy tức là nội quái cần phải có ngoại quái và ngoại quái phải có nội quái. Nghề chiêm bốc, cho được linh nghiệm tất thế nào cũng phải hợp nội và ngoại quái mà đoán mới thật là phải đạo vậy.

Động Tinh Luận

Phàm chiêm bốc, tuy đã thấu cái cơ trọng yếu của Động Tịnh. Tuy vậy còn có cái định lý và sự biến của sự việc. Dương động mà âm tịnh, một động một tịnh, cái lý nó phát xuất từ cái tịnh ấy qua cái động kia. Một tịnh thì trăm động, là do cái biến đổi của sự việc ấy. Các sự việc ở trong thiên hạ, nó rối rắm giao động, mỗi mỗi đều có sự đoán. Ta chỉ lấy một tịnh mà liệu lượng thôi, không động thì không chiêm. Không có cớ tất không bói. Phép chiêm bốc phải xét rõ từng sự việc của quần vật, cái động của sự vật mà xấu, thì cái triệu của quẻ cũng xấu, cái động của sự vật mà tốt, thì cái triệu của quẻ cũng tốt.

Như chỗ huyên náo là chợ búa, quán đình, nhân vật lộn xộn, quần vật đầy dẫy trước mắt, sự gì nương theo vật nấy thì cũng ứng ngay vào quẻ, sự tốt hay xấu cũng vạy, phải suy vào một cái lý nào để nó hợp với sự vật ấy.

Vị chưng, ở trong cái quần động ấy, hoặc là tự thấy bởi tai mắt của ta, hoặc ta đã thấy từ trước, hoặc quần sự nó thể hiện rõ ràng, hoặc do chính ta tưởng niệm ra, ta lấy đó làm sở dụng để chiêm bốc, Ví như:

Cầu danh cũng do ở trong cái quần động, hoặc ta thấy quan phủ, hoặc có văn thư bào hốt (áo mão đồ các quan mặc đi triều), vật lễ nghi thì ứng sự có lợi về quan sự.

Cầu tài lợi thì gặp được người cự thương, phú gia (nhà buôn to, nhà giàu có), hoặc thấy vật báu hóa, đoán quyết được ngay ứng tài lợi.

Lại như chiêm quan tụng rủi gặp phải đồ vật như roi vọt, xiềng xích ắt có sự kiện không tốt; chiêm bịnh mà không gặp vật ai, ma (áo tang), quan quách thì bịnh xoàng thôi không đáng ngại. Xem như vậy mới biết sự sự tương quan, vật vật tương ứng, đó là cái thiết yếu để chiêm bốc vậy.

Đến như ngồi thì ứng chậm; đi thì ứng mau; chạy lại càng ứng mau hơn nữa; nằm thì ứng chậm hơn; như thế tất phải xét nguyên nhân của sự động.

Tâm ta vốn tịnh, người tới coi quẻ, do cái ý niệm của họ ứng vào tức là động, ta dùng cái tịnh của ta, mà liệu lường cái động của người, ta dùng cái niệm của ta, mà suy cái nghiệm của người, cái tâm thành thực thì quỷ thần hay thấu, biết như vậy rồi khá biết cái trọng yếu của động và tịnh.

Hướng Bối Luận

Phàm chiêm quái cho ứng nghiệm, cần phải xét đến Hướng và Bối ứng của các sự vật. Hướng là quay mặt hướng trở lại. Bối là cái ứng của sự vật quay lưng lại mà đi như:

Con chim quạ báo tai ương, nếu từ xa bay lại tức họa sắp tới, nếu nó bay trở đi là họa đã hết rồi.

Con chim khách báo hỷ, nó từ xa bay tới, ắt có việc vui mừng sắp tới, nếu nó bay trở đi, sự vui mừng đã qua rồi.

Cho đến các ngoại ứng khác cũng đồng đều như vậy cả. Cho nên quái khắc Thể quái nếu thấy khí vật hướng trở lại thì họa ắt đến, còn thấy khí vật quay lưng trở đi là họa đã qua rồi. Còn như quái sinh Thể quái, mà thấy khí vật hướng trở lại ắt sự tốt lành sẽ tới, còn thấy khí vật quay lưng lại mà đi, sự tốt lành đã qua rồi.

Các triệu chứng khác cũng đều chung một lý như vậy hết. Ấy gọi là chiêm Hướng Bối theo cái lý của Dịch.

Tịnh Chiêm

Phàm chiêm quái, ở chốn thanh tịnh vắng vẻ, như ở trong tịnh thất, ta không nghe và cũng không thấy sự động của khí vật bên ngoài, những biến của ngoại cảnh tức là không có ngoại quái, ta khỏi phải xét đến ngoại quái, mà chỉ thấy toàn quái, năm, tháng, ngày hợp với ngũ hành suy vượng cùng với thể Dụng mà suy đoán.

 

Quan Vật Động Huyền Ca

Nghĩa là xem xét rõ ràng thông suốt sự sâu kín nhiệm mầu của sự vật, bài ca này phần nhiều đoán cái khí tượng của nhà ở.

Xưa người Ngưu Tư, vào nhà người có thể biết được cái triệu tốt hay xấu của chủ nhà; nhờ cái thuật đó mà biết cái thế hưng suy, cái điềm tốt lành, yêu quái tà nghiệt ở trong gia môn, nhận biết được để làm gương suy nghiệm, không nhận biết được đành chịu mờ ám.

Cho nên bài ca này là một ảo thuật rất linh ứng, cũng đều do cái lý mà ra, chớ nên cho là thiển cận. Sự việc trong thế gian không ngòai cái số, cái lý, gặp việc cát hung lẫn hối đều có thể biết trước được cái họa phước. Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ sinh khắc làm chủ; năm sắc: Xanh, Vàng, Đỏ, Trắng, Đen phân biệt cái màu sắc rõ ràng, sự tốt xấu nhà của người đều thấy được. Chỉ hướng vào lời phán đoán huyền trung.

Vào nhà nhận xét được bằng nghe thấy, mà biết hưng suy. Về nhà nhận thấy cái xuân khí, thì trong gia trạch sinh hòa khí, bằng như cái vẻ lạnh lẽo, linh lạc giống cảnh mùa Thu, thì gia đình sẽ suy vi. Tự nhiên nhận thấy mùi hương hơm đầm ấm, nhà sẽ đầy phước đức. Ngửi cái mùi tanh hôi, ô uế, tựa như heo, mèo, chó, lợn là chủ sự bịnh tật khốn cùng. Trai tráng, gái sức chỉnh tề, gia phong thịnh. Người nhà mặt bẩn đầu bù, định thấy ưu sầu.

Quỷ khóc, phụ thân đầy vẻ lo âu buồn bả, họa hại thiểu phước. Lão nhân vô cớ, khóc lệ tràn đôi mắt, ắt thấy ngay sầu bi. Trước nhà vách đổ nát, gia đạo tiêu kiệt. Suối lạch hướng trông vào trước cửa, tài bạch nhiều phần sa sút. Hốt nhiên trên mái nhà mọc nhiều cây cỏ, gia nhân an bảo nhờ âm đức. Môn hộ sáng sủa thanh tịnh, dứt sạch trần ai ắt hẳn có cao tài. Ngẫu nhiên, trước cửa xem tựa buồn thảm xui xẻo, chơi vơi, tất nô khí chủ. Thường thường tan vỡ điêu tàn non biển, đoán gia cư bất lợi. Đào hoa tươi tốt, trước nhà thấm nhuộm phong tình. Trước nhà, sau nhà trồng cây vông, chủ nhân ly biệt. Bên giếng trồng cây lê là hiệu ly hương. Tự đường thần vị thình lình bốc cháy, đề phòng hỏa ách. Trước nhà, ngói sụp đổ, chủ sự sầu bi. Ví như nhiều hang lỗ đầy mảnh bát bể, thấy cảnh bần cùng. Ban ngày không nên để đèn giữa nhà, sự chết chóc tiếp nối, công nhiên rõ ràng chuột viếng giữa trưa, chẳng thoát khỏi hao tài. Sáng chiều, gà mái gáy, âm thịnh nhà tan nát. Chó sủa tru giữa nhà, thân quyến ắt tai ách. Sáng sớm chim khách kêu liên tiếp, người đi xa sắp về. Rắn, trăn vào nhà, ngộ bịnh thấy yêu tà. Bầy chim sẻ tranh đuổi nhau cắn nhau, nhà đương thịnh ắt thấy khẩu thiệt lôi thôi. Chim cú, chim chài kêu trước cửa, nhân khảu bị liên tai. Vào nhà thấy bầy dê, gia chủ bịnh ôn hoàng. Ghe thuyền để trên cạn, tuy ổn định mà thành yểm trệ. Bóng cây nhà người vượt qua vách nhà ta, đa đắc hoạnh tài. Trước thềm, gạch đá vỡ tan mọi sự đều suy diệt. Vào nhà thấy trà quả, ứng tươi tốt, được nhiều quà biếu tặng. Ngày ba bữa khói lửa đều đều là nhà no ấm. Liên miên ngủ ngày chẳng phải thời, là triệu nhân tán tài ly.

Lý tại tâm ta, đạo thánh hiền truyền để dẫn đạo phát xuất ở Tiên thiên, sâu xa thầm kín, thấu u huyền.

Bài ca Động huyền với Thiên linh ứng trước, tuy là phương pháp khác nhau, nhưng cùng một mục đích, Thiên linh ứng kia phần nhiều thuộc về khoa chiêm bốc, vì sự chiêm bốc lại tùy thuộc theo sở xuất, sở kiên cùng với triệu khắc ứng.

Còn như bài ca Động huyền này thì không liên hệ gì mấy với sự chiêm bốc, chỉ thuận nhịp mà ghi chép phụ thêm. Người nào có việc gì, tất nhiên có lý nấy, vì có nhiều ngụ ý để quan sát mọi sự vật xảy ra, lại để cảnh tỉnh tránh sự dữ, hoặc để chuyển rủi thành may, vô tình chẳng thấu hiểu nổi căn duyên của định mạng; khiến ta thấy chuyện thiện ác không tránh khỏi, âu cũng để làm gương soi chung vậy.

Gia Chủ Họ Vương

Năm Dần là số thứ 3, tháng 12, ngày mồng 1, cộng tất cả là 16, gia họ Vương (chữ Vương có 4 nét) số 4, tất cả cộng lại được 20 - (2 lần 8 là 16) = 4, tức quẻ Chấn làm Thượng quái; sau gia thêm giờ Ngọ là giờ thứ 7; tổng cộng là 27 - (3 lần 8 là 24) = 3 tức là quẻ Ly làm Hạ quái. Tổng số 27 trừ (4 x 6) = 3, tức là hào 3 động thì được quẻ Lôi Hỏa Phong biến Chấn.

Cách Bố Quái

Năm Dần 3 + tháng 12 + ngày 1 = 16 + chữ Vương 4 = 20.
20 - (2 x 8) = 4 = Chấn.
Giờ Ngọ 7: 20 + 7 = 27 - (3 x 8) = 3 = Ly.

Chánh quái
(Lôi Hỏa Phong)

__  __
__  __ Thể
_____ Chấn: Mộc

_____ * Dụng
__  __
_____ Ly: Hỏa

Hổ quái


__  __
_____
_____ Đoài: Kim

_____
_____
__  __ Tốn: Mộc

Biến quái


__  __
__  __
_____ Chấn: Mộc

__  __
__  __
_____ Chấn: Mộc

Giờ Ngọ 7: 20 + 7 = 27 - (3 x 8) = 3 = Ly.
27 - (4 x 6) = 3 tức hào 3 động.

Lời Đoán: Nhà họ Vương này được quẻ Lôi Hỏa Phong biến Chấn, Hổ thấy Đoài, Tốn. Chấn Mộc là Thể quái, Ly là Dụng quái, Đoài là Thể quái hổ ra, lại khắc Thể cũng kỵ, tuy được Ly Hỏa chế Đoài Kim cũng không được tốt lắm. Dụng Hỏa làm Tiết Thể Khí là triệu hao tán tư tài, mỗi khi gặp năm, tháng, ngày Hỏa tất thấy triệu ấy, hoặc nhân phụ nhân gây ra tổn thất, trong gia đạo lại có nhiều nữ tử thị phi. Đến năm Hợi, Tý, Dần, Mẹo hoặc ngày tháng ấy chủ ắt có tiền tài lợi ích, vì Chấn Mộc là Thể, tuy không gặp Khảm Thủy nhưng chung cuộc lợi Thủy niên là sinh Thể khí, lại không gặp Chấn Tốn nhưng gặp năm Dần, Mẹo là năm hợp cuộc với Thể quái. Phàm có Chấn có Tốn ngôi nhà này đến năm Dần, Mẹo cùng Mộc khí, vân niên gặp thì ắt được đắc ý. Biến quái là Trùng Chấn tất có người trưởng tử có thế lực, sau 22 năm, ngôi nhà này bị cháy.

Gia Chủ Họ Điền

Cũng năm Dần, tháng 12, ngày mồng 1, giờ Ngọ cộng lại như trên được số 16, cộng thêm họ (chữ Điền có 6 nét chữ) là được 22 - (2 lần 8 là 16) còn lại 6 tức là quẻ Khảm làm Thượng quái, gia thêm giờ Ngọ số 7 + 22 được 29 - (3 lần 8 là 24) còn lại 5 tức là quẻ Tốn làm Hạ quái thì được Thủy Phong Tỉnh biến Địa Phong Thăng, hổ quái thấy Ly, Đoài. Tồng số 29 - (4 x 6) = 5, động hào 5.

Cách Bố Quái

Năm Dần 3 + tháng 12 + ngày 1 + chữ Điền 6 = 22.
22 - (2 x 8) = 6 = Khảm.
Giờ Ngọ 7: 22 + 7 = 29 - (3 x 8) = 5 = Tốn.

Chánh quái
(Thủy Phong Tỉnh)

__  __
_____ * Dụng
__  __ Khảm: Thủy

_____
_____ Thể
__  __ Tốn: Mộc

Hổ quái


_____
__  __
_____ Ly: Hỏa

__  __
_____  Đoài: Kim

Biến quái
(Địa Phong Thăng)

__  __
__  __
__  __ Khôn: Thổ

_____
_____
__  __ Tốn: Mộc

29 - (4 x 6) = 5 tức hào 5 động.

Lời đoán: Nhà họ Điền, chiêm được quẻ Thủy Phong Tỉnh Biến quái Địa Phong Thăng, Hổ quái thấy Ly Đoài. Tốn là Thể quái thuộc Mộc, Dụng quái là Khảm thuộc Thủy là sinh, tuy Hổ quái Đoài là Kim khắc Mộc, Thể quái mà được Ly Hỏa, Hỏa tuy vô khí, kết cuộc cũng có thể chế được Kim Đoài. Tuy nhiên, năm, tháng, ngày Dậu (Đoài thuộc Dậu), ắt là có sự tổn thất. Hợi Tý (là Thủy), năm tháng, ngày Hợi, Tý ắt có tiến tài, hoặc được tài thuộc về giang biên (Thủy biên) vì Dụng Khảm sinh Thể quái Mộc (Tốn). Đến năm Dần, Mẹo thì được khoái ý lắm, vì gặp khí tỵ hoà. Nhưng trong gia đạo thường hay sinh khẩu thiệt, vì chưng quẻ Đoài.

Thể là Mộc, mà gần mùa Xuân, mừng được Khảm Thủy chỗ ở này tất nhiên là vượng phát. Sau 29 năm, ngôi nhà huỷ diệt vì 29 là số của toàn quái, nếu trong quái mà không có quẻ Đoài thì sau 29 năm ngôi nhà này cũng không có việc gì xãy đến cả.

Gia Chủ Họ Hàn

Cũng năm tháng ngày như trên là số 16 gia thêm họ Hàn 21 nét(chữ Hàn có 21 nét) tức là 16 + 21 = 37 trừ (4 lần 8 là 32) còn lại 5 là quẻ Tốn đặt làm Thượng quái. Số 37 gia thêm giờ Ngọ số 7 + 37 thành ra 44, trừ (5 lần 8 là 40) còn lại 4 là quẻ Chấn đặt làm Hạ quái. Số 44 trừ (7 lần 6 là 42) còn lại 2 là hào 2 động.

Cách Bố Quái

16 + 21 = 37 - (4 x 8) = 5 = Tốn
37 + 7 = 44 - (5 x 8) = 4 = Chấn.

Chánh quái
(Phong Lôi Ích)

_____
_____ Thể
__  __ Tốn: Mộc

__  __
__  __ * Dụng
_____ Chấn: Mộc

Hổ quái


_____
__  __
__  __ Cấn: Thổ

__  __
__  __
__  __ Khôn: Thổ

Biến quái
(Trung Phu)

_____
_____
__  __ Tốn: Mộc

__  __
_____
_____ Đoài: Kim

44 - (7 x 6) = 2 tức hào 2 động.

Lời đoán: Quái biến Trung Phu (Phong Trạch Trung Phu) Thể quái là Tốn, Hổ quái thấy Cấn Khôn, Biến quái thấy Đoài khắc Thể, ngôi nhà này sau sẽ có quan tụng xảy ra năm tháng ngày Dậu sau Thân Dậu niên lai thấy bịnh hoạn. Mừng được Dụng quái là Chấn thuộc Mộc gặp Tốn là Thể cũng là Mộc, thế là tỵ hoà, đáng được năm Dần Mẹo thì tốt. Sau 31 năm gặp Thân Dậu thì ngôi nhà này bị huỷ, ví bằng không có Đoài hoặc cũng không có Khảm thì sau 31 năm, ngôi nhà này cũng không có việc gì xãy ra cả.

Như trên lấy họ của các gia chủ mà bố quẻ gọi là khỉ số, tùy theo quẻ của các gia chủ mà đoán.

Phàm các sự hôn nhân, tang sự đều cũng gia họ. Tuy vậy về tang sự thì chỉ gia một họ đủ rồi, còn việc hôn nhân là việc của hai nhà, nên phải gia hai họ.

Người ở vùng cực Bắc, không có họ thì gia tên, nếu không biết chữ để viết tên, thì lại kể từng tiếng đọc thanh âm, nếu không có tên thì tự mình ngụ ý lấy, mà biện lấy cho đúng lý.

Chiêm Khí Vật

Phàm chiêm Khí Vật không nên thấy quẻ Đoài, vì Đoài có nghĩa là tiêu diệt. Nhược bằng Khảm là Thể quái, mà có Đoài thì không sao. Nếu Càn là Thể quái, có Đoài cũng vô hại. Kỳ dư các quẻ khác mà có Đoài là không bền, tức là vật khí phá mộc. Hoặc Chấn Tốn là Thể quái, thấy Đoài là Dụng quái ắt chẳng chịu được lâu bền. Ngày phá khí là Thân Dậu cùng với năm, tháng, ngày chiếm quẻ.

Lại nữa, nếu nuôi súc vật, cũng không nên thấy Càn, Đoài khắc Thể. Gieo trồng cây cối, nếu Càn Đoài khắc thể là bất thành, nếu có thành rồi cũng bị hủy diệt bởi dao, búa, tai ách khác.

Gieo trồng nên tốt hơn là gặp Khảm. Lại nữa, muốn biết tháng, ngày hủy diệt của các khí vật, nếu Thể quái mà không bị khắc, thì lâu bền, nếu Thể quái mà bị khắc, thì chẳng được lâu bền.

Xét khí số của khí vật mà được lâu bền, thì lấy số toàn quái mà đoán niên số. Xét khí số của khí vật không được lâu bền thì dùng toàn số mà kể tháng, nếu mau hơn nữa thì dùng toàn quái số mà kể ngày

Tượng Đồ Phương Vị Bát Quái

Image hosted by Photobucket.com

Thiệu Khang Tiết Tiên Sinh
Mai Hoa Quan Chiết Tự. Phần III
__________________________

Bài Tựa

Diệu thay! Dịch há chẳng là lời Dịch sao? Vì rằng Dịch thư rất tinh vi, rất huyền diệu, vậy nên số cũng chẳng ở ngoài Dịch lý được. Tiên thiên, Hậu thiên có khác nhau, dùng hiệp âm (hợp cái tiếng) và thủ âm (chọn lựa cái tiếng) mà minh biện sự đắc thất, ưu lự, nắm lấy Hổ Biến chóng chầy làm Ứng. Số là do tiền định, họa phước khó lường, dùng Dịch lý làm sáng tỏ sự việc.

Ta cầu được các Thiên như: Tiên thiên, Huyền Hoàng, Linh Ứng, ngoài ra ta còncần chọn lấy Từ dịch. Quan Mai số bày tỏ lý của ngũ hành sinh khắc, suy vượng để phân định mà tránh điều dữ, đón điều lành. Hậu học lấy đó làm gương.

Lời Dịch dạy rằng: Thái cực sinh Lưỡng nghi; Lưỡng nghi sinh Tứ tượng; Tứ tượng sinh Bát quái; Bát quáii sinh vạn vật.

Thiệu Tử bảo rằng: Một phân làm hai, hai phân làm bốn, bốn phân làm tám.

Thuyết quái truyền rằng: Dịch trái với số.

Thiệu Tử nói: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Từ Càn đến Khôn, ấy là được quái vị sinh, nếu suy trở lại, thì nó cũng ngang nhau theo Tứ thời vậy. Hậu thiên có 64 quái.

Bát Quái Định Âm Dương Thứ Tự

Càn là cha.
_____
_____
_____

Khảm là trung nam.
__  __
_____
__  __

Khôn là mẹ
__  __
__  __
__  __

Ly là trung nữ.
_____
__  __
_____

Chấn là trưởng nam
__  __
__  __
_____

Cấn là thiếu nam.
_____
__  __
__  __

Tốn là trưởng nữ.
_____
_____
__  __

Đoài là thiếu nữ.
__  __
_____
_____

__________________________







Trạch Hỏa Cách
biến

__  __
_____
_____

_____
__  __ Thể Kim
_____ * Hỏa Kim











_____
__  __
__  __ Cấn: Thổ

 







Trạch Sơn Hàm

__  __
_____
_____

_____
__  __
__  __ Hổ    Tốn Mộc

Ly quái sơ hào dương động biến âm, biến Cấn quái. Đoài thuộc Kim là thiếu nữ. Ly Hỏa khắc. Tốn là cổ vế. Càm Kim lại cũng khắc cho nên bị thương ở cổ vế. Nhờ được Cấn Thổ sinh Càn Kim, đoán rằng không bị thiệt mạng.

Tương sinh rất tốt, thứ đến tỵ hòa.

Thể Dụng là do ở vị trí biến hào, rồi mới phân định ra Động và Tịnh. Đọng ấy là quẻ Dụng, Tịnh ấy là quẻ Thể.

Lại như Ly là tứ quái, Càn là cửu quái, Khảm là tam quái, Tốn là thất quái, Khảm là bát quái, Đoài là nhị quái, Chấn là ngũ quái, Cấn là nhị quái và Tốn là lục quái.







Địa Lôi Phục quái
biến


__  __
__  __
__  __

__  __
__  __ *
_____ Thể   Thổ   Dụng Mộc  Kim

 







Địa Trạch Lâm

__  __
__  __
__  __

__  __
_____
_____ Thổ   Thổ  

Mộc là Dụng hào, đoán ra là vật mềm, là thể văn chương, giảng ra là kim chỉ nam (la kính).







Thiên Trạch Lý quái
biến

_____
_____
_____

__  __ *
_____
_____ Thể   Dụng Kim   Kim

 



Càn quái

_____
_____
_____ Kim   Mộc  Hỏa.

Quẻ này đoán ra là vật bằng sắt, tức là cái kéo cắt tóc.







Trạch Hỏa Cách
biến

__  __
_____
_____

_____
__  __ *
_____ Dụng Kim
(Có lẽ sai, quẻ này phải là: Hỏa Trạch Khuê)

 







Phệ Hạp quái

_____
__  __
_____

__  __
__  __
_____ Hỏa  Kim  Hổ Mộc

Quẻ này Dụng hào Mộc; Thể Hỏa, mùa Hja Hỏa thì vượng tính sinh Thổ, tất thị là vật bằng đất.







Quy Muội quái
biến

__  __
__  __ *
_____

__  __
_____
_____ Dụng Mộc

 







Hỏa Trạch Khuê quái

_____
__  __
_____

__  __
_____
_____ Thổ  Thủy  Hổ Hỏa

Dụng hào thuộc Mộc, biến Hỏa, Thể quái thuộc kim, từ hào biến quái thành Cấn Thổ năng sinh Kim, đoán ra là sắt.







Trạch Thiên Quải quái
biến

__  __
_____
_____

_____
_____
_____ * Thủy Thể Kim  Thổ Kim  Kim

 



Đoài quái

__  __
_____
_____ Kim   Hổ  Kim.

Quẻ này nếu chẳng phải loài Kim thì ắt là loài đá, ấy là cái dĩa bằng đồ sứ vậy.







Trạch Hỏa cách quái
biến

__  __
_____
_____

_____
__  __
_____ * Thể   Kim   Hỏa

 



Cấn quái

_____
_____
_____ Kim   Hổ  Thủy.

Quẻ này là Trạch Hỏa Cách là thiếu nữ, vật gần là Khẩu (miệng), vật xa tượng trưng cho Dương (dê); Nội Ly là trung nữ, vật gần là Mục (con mắt), vật xa là Trĩ (chim trĩ). Sơ hào biến Cấn quái là Thổ; Thổ năng sinh Kim, thì giúp cho Đoài là em thứ; trừ bỏ sơ hào, dời lên tứ hào lại thành Tốn Mộc, vì vậy mới bị thương ở vế, nhờ được sơ hào biến cấn Thổ; Thổ sinh Đoài Kim, cho nên chỉ bị thương không đến nỗi thiệt mạng.

Gần thì ví vào chư thân ở Bát quái: Càn là đầu, Khôn là bụng, Chấn là chân, Tốn là bắp vế, Khảm là tai, Ly là mắt, Đoài là miệng, Cấn là tay. Ấy thuộc về thân người vậy.

Ở xa thì ví vào chư vật: Càn là mã (ngựa), Khôn là ngưu (trâu), Chấn là long 9rồng), Khảm là thỉ (con heo), Tốn là kê (con gà). Ly là trĩ (chim trĩ), cấn là cẩu (chó), Đoài là dương (dê). Ấy thuộc về súc đạo.







Thiên Thủy Tụng quái
biến

_____
_____
_____

__  __
_____
__  __ Thể Kim  Dụng Kim  Kim

 



Đoài quái

__  __
_____
_____ Kim   Mộc  Hổ  Hỏa.

Thiên Thủy Tụng quái, biến Đoài vì muốn cầu tài, nhận thấy Thể quái sinh, cho nên khí bị lộ ra ngoài, thế là tài không có, lại nữa gặp quẻ Ly là Hỏa khắc Kim. Như vậy là ngày ấy, giờ Ngọ, có khách tới ăn, yêu sách rượu, rồi trở thành tiêu hao vậy.

Các tin khác
Độc lục nhâm thái ất - Lời dặn Dịch lý và phương pháp luận Chu Dịch với dự đoán học Mai hoa dịch số (P11) Mai hoa dịch số (P10) Mai hoa dịch số (P9) Mai hoa dịch số (P8) Mai hoa dịch số (P6) Mai hoa dịch số (P5) Mai hoa dịch số (P4)
Giỏ hàng
Hỗ trợ trực tuyến
Pháp Sư Trần Ngọc Kiệm 0913290384
Thầy Tạ Minh Tuấn 0939965885
Sản phẩm mới
Thống kê
138
Đang xem
4,318,492
Lượt truy cập

THẠCH ANH TÍM THẦN QUY TRẤN YỂM CÁC LỖI PHONG THUỶ TRỤ THẠCH ANH CẦU ĐÁ PHONG THỦY


Copyright © 2011 PhucLaiThanh.com - Thiết kế và phát triển bởi Bambu®