Video clip của Pháp Sư
Các bài viết của Pháp Sư
Video clip tham khảo
Đá quý phong thuỷ
Dịch học
Dự đoán số mệnh qua tên
Dự đoán tổng hợp
Hoành phi câu đối
Kê Túc (Xem chân gà)
Nhân tướng học
Nghi lễ dâng hương
Nhìn người đoán bệnh
Pháp khí phong thủy
Phép cân xương tính số
Phép đo tay tính số
Phép giải mộng
Phép xem chỉ tay
Phong Thủy
Phong Thủy Tổng Hợp
Phù Lưu Diệp
So tuổi vợ chồng
Tìm mộ liệt sĩ
Tín ngưỡng Phật giáo
Tổng hợp Văn khấn
Tử vi
Tứ trụ
Xem chữ kí
Xem giờ sinh và đặt tên cho con
Xem ngày lành tháng tốt
Xem sao và cách giải hạn
Xem tướng tay và chân
Tài liệu tham khảo
bambu advert
bambu.vn/118/thiet-ke-website.html
Dịch vụ thiết kế website Nhanh - Đẹp - Chất lượng với 9 năm kinh nghiệm phát triển
bambu.vn/118/thiet-ke-website.html
Dịch vụ thiết kế website Nhanh - Đẹp - Chất lượng với 9 năm kinh nghiệm phát triển
Mai hoa dịch số (P8) 8/15/2013 4:28:29 PM (GMT+7)

Phàm chiếm quẻ thường sự (việc không quan trọng lắm) để biết tốt xấu, phải xem trong quẻ, có quẻ nào sinh Thể, thì cái sẽ ứng rất mau, rồi xem quẻ sinh Thể trong mục Bát quái thời tự để đoán thời kỳ,

 Phép Bí Truyền Về Chiêm Bốc

Phàm chiếm quẻ thường sự (việc không quan trọng lắm) để biết tốt xấu, phải xem trong quẻ, có quẻ nào sinh Thể, thì cái sẽ ứng rất mau, rồi xem quẻ sinh Thể trong mục Bát quái thời tự để đoán thời kỳ, nếu quẻ sinh Thể là quẻ Dụng, thì sự việc thành tựu, nếu sinh Thể là Hổ quái, thì đoán dần dần mới thành, nếu sinh Thể là Biến quái, thì chậm hơn. Ví bằng có quẻ sinh Thể.

Lại có quẻ khắc Thể lẫn lộn thì sự việc sẽ gặp trở. Sự xấu tới cũng chưa đầy đủ rõ ràng, cần xem quái khí của các quẻ khắc Thể, trở bao nhiêu ngày, như Càn khắc Thể thì trở một ngày, Đoài khắc Thể thì trở hai ngày, cứ như vậy mà suy.

Như chiêm thường sự mà không có quẻ sinh Thể, lại có quẻ khắc Thể, tất sự việc không tốt, còn không có quẻ khắc Thể, thì sự tất thành đạt được.

Còn như chiêm quẻ thuộc sự việc quan trọng xem trong quẻ, nếu có quẻ sinh Thể thì sự việc có thể cứu vãn được, vô hại, nếu không có quẻ sinh Thể, thì sự việc không được tốt. Muốn luận về nhật kỳ xem trong quẻ có quẻ sinh Thể, ắt sự việc sẽ ứng vào ngày quái khí của quẻ sinh Thể, nếu có quẻ khắc Thể thì sự việc sẽ thất bại vào ngày quái khí của quẻ khắc Thể. Cần phải lanh trí mà xét đoán mới được.

Thể, Dụng, Hổ, Biến Pháp Thuật

Đại phàm xem quẻ lấy Thể làm chủ, Hổ, Dụng, Biến đều là Ứng quái. Quẻ dụng rất là khẩn thiết, Hổ quái là thứ khẩn, Biến quái là thứ khẩn hơn. Vì cớ ấy mà gọi Dụng quái là ứng tức thời, Hổ quái là trung gian ứng, còn Biến quái là kết cục của sự chiêm quẻ.

Song le: Hổ quái phải phân ra có: Thể quái hổ ra; có Dụng quái hổ ra. Nếu Thể quái ở trên (phía trên), thì Hổ ở trên tức là Thể hổ ra; Dụng quái ở dưới (phía dưới) thì Hổ ở dưới lại là của Dụng hổ ra.

Trái lại, nếu Thể quái ở dưới, thì hổ ra cũng nằm dưới, còn quẻ Dụng nằm trên, hổ ra cũng nằm trên. Quẻ Hổ của Thể hổ ra rất là khẩn, rồi mới tới quẻ Hổ của dụng khẩn.

Ví như quẻ Quan Mai là Hằng quái (Lôi Phong Hằng), Hổ thấy Đoài và Càn Đoài là thể quái, Hổ thấy nữ tử bẻ bông. Ví như càn là Thể, Hổ sẽ thấy lão nhân bẻ bông. Xét Đoài Càn đều khắc Thể hết, chỉ lấy Đoầi mà không lấy Càn. Như vậy là cách phân chia giữa Thể, Dụng và Hổ. Đại phàm, xem quẻ nếu Biến quái khắc mà Thể, thì sự việc hậu lai không được tốt; nếu Biến quái sinh Thể và tỵ hòa thì sự biệc cuối cùng có cát lợi. Như vậy là pháp thuật của Dụng, Hổ và Biến vậy.

Pháp Thuật Về Thể Dụng Sinh Khắc

Phàm chiếm quẻ, thì lấy quẻ mà phân ra Thể Dụng, Hổ Biến, tức là dựa vàolý của Ngũ Hành, để đoán cát hung, lẽ tức nhiên lý sinh khắc là do ở Nội, Ngoại, Thể, Dụng, Hổ, Biến mà xét đoán.

Ví bằng, Ngoại quái tất phải minh định cái lý cho tinh vi của sự chân sinh và chân khắc, của ngũ hành mới định khinh hay trọng, thì họa phước ứng ngay tức thì. Sao vậy? Thí dụ như Càn Đoài thuộc Kim là Thể quái gặp Hỏa thì khắc. Song le có chân Hỏa thật sự, và có Hình sắc Hỏa. Chân Hỏa mới thực sự là khắc Kim, còn Hình sắc Hỏa thì không tốt, mà Hình sắc Hỏa thì không khắc, mà chỉ không được thuận mà thôi.

Thí dụ: Thấy Hỏa ở trong lò nung, đốt, hoặc Hỏa ở bếp nấu, ấy thật là chân Hỏa chân khắc vậy; lại như Hỏa ở đèn, đuốc, lửa cháy có ngọn lửa, tức là chân Hỏa, nếu Càn Đoài là Thể mà gặp các thứ Hỏa đó là không tốt. Còn như Hình sắc Hỏa như ánh lửa, lửa ở cây cỏ mục, tức là Hình sắc Hỏa, không phải thật chân Hỏa thì ví dù Thể là Càn Đoài cũng chẳng ngại. Còn như Hỏa ở một cây đèn nhỏ, một cái đóm nhỏ, tuy là chân Hỏa nhưng nhỏ và ít, thì kể như khinh (nhẹ), chỉ bất lợi chút đỉnh thôi.

Bây giờ, như Chấn, Tốn thuộc Mộc là Thể, lẽ tự nhiên gặp Kim thì khắc. Song le, loại kim như vòng, xuyến, khuyên vàng, lại như loại kim ở cái miệng bát, cái lư, cái mâm làm bằng kim khí, như đồng, bạc, chì, kẽm, sắt vụn vặt tuy là loài chân Kim mà làm sao khắc được. Mộc chỉ sợ nhất là loài Kim như gươm sắc, dao bén, búa chặt, cưa đục: Chấn Tốn mà gặp phải thì rất xấu.

Lại như Ly là Hỏa là Thể gặp phải Thủy thì rất tối kỵ. Nhưng thí dụ như hình sắc đen, thể ẩm thấp như huyết cũng thuộc Khảm Thủy, vốn kỵ nhưng thật ra thì chẳng hại gì. Tất cả các quẻ trên là Thể quái, mà gặp Ngoại ứng khắc Thể, tất phải luận cái khinh và trọng mà đoán.

Xét về nhứng cách sinh Thể, cũng nên minh biện rõ ràng Thổ như gạch, ngói cũng đều là đất thuộc Khôn, nếu gặp được Kim thì Thổ sinh Kim, còn gạch ngói thì không thể sinh Kim được.

Cây cối, củi đốt đều thuộc Mộc cả, gặp Ly Hỏa thì khắc, nếu là cái đuốc thì chống khắc Hỏa; còn như cây lớn mà chưa đốn xuống thì sinh Hỏa đâu có chống được.

Thể là Mộc mà gặp Thủy thì điềm phước đức, nhưng như sữa, máu huyết đều là Thủy cả, gặp những loại như vậy ví dù là Khảm mà sinh Mộc, như thế đó đều gọi là loại khinh cả.

Ngoài ra ngũ hành sinh khắc, đều phải phân rõ ràng từng loại mà đoán.

Thể, Dụng Suy Vượng Pháp Thuật

Phàm Thể quái phải vượng, khắc Thể quái phải suy, khí quái của Thể như mùa Xuân thuộc Mộc, Hạ thuộc Hỏa, Thu thuộc kim, Đông thuộc Thủy, bốn tháng tứ quý thuộc Thổ, đều thuận với thời tiết cả, nên gọi là thừa vượng khí. Nếu có tha quái khắc thì cũng vô hại. Dụng quái, Hổ quái, Biến quái mà vượng thì tốt. Chẳng những chỉ không nên có khí vượng của quẻ khắc Thể, mà khí của Thể quái lại suy thì cũng không tốt được.

Chiêm quẻ nếu gặp phải như vậy thì ví như chiêm bịnh, ắt phải chết. Chiêm tụng sự ắt phải thất bại, nếu không phải là chiêm bịnh hay chiêm tụng sự mà là chiêm thường sự đi nữa, thì cũng phải đề phòng bịnh hoạn, quan tai.

Muốn biết nhật kỳ xảy ra, hay gặp phải thì cứ xét ngay khí quái của quẻ khắc Thể, tức ta lấy thời kỳ đó vậy. Trái lại, khí của quái Thể vượng, mà khí của quẻ sinh Thể lại vượng nữa, thì sự việc rất tốt, mau chóng thành đạt, muốn tìm cái sự xuất phát lúc nào, cứ xét ngày giờ của quẻ sinh Thể là biết. Nhược bằng Nội quái và Ngoại quái có nhiều cách sinh Thể, mà Thể quái tuy là suy thì cũng không hại lắm. Nếu nội, Ngoại đều không có quẻ sinh Thể, tuy là Thể quái có nhiều quẻ đồng hành với Thể (thuộc vào hành nào đó, giống như hành ở Thể quái) là suy quái vậy, rúy cục cũng không được tốt.

Vì lẽ ấy, cho nên Thể, Dụng cần phải xét thịnh suy cho tinh tường

Chiêm Tọa Đoan Pháp Thuật

Tọa đoan nghĩa là lấy chỗ ta ngồi là chánh giữa, bát vị bày ra tám phương, xem quẻ quyết đoán , không nên cố chấp ý kiến của mình, mà phải theo cái ứng ngồi làm đích xác.

Xét bát quái bát phương ứng triệu, như vậy gọi là chiêm quẻ theo ứng của tọa đoan, tùy theo phương quái sinh khắc mà định cát hung của người:

- Cung Càn: có Thổ sinh, hoặc cung Càn có triệu tốt, thì người tôn trưởng, lão nhân có hỷ sự, nếu quẻ Càn có Hỏa khắc, hoặc triệu hung, ắt người tôn trưởng, lão nhân chắc có ưu sự.

- Cung Khôn: có Hỏa sinh, hoặc cung Khôn có triệu tốt, thì mẫu thân hoặc chủ âm nhân có sự vui mừng, Khảm cung thấy khắc hoặc có triệu hung, thì chủ lão mẫu, âm nhân có tai ách.

- Cung Chấn: có Thủy sinh và Đông phương Chấn cũng có triệu tốt, chỉ sự vui thuộc về trưởng tử, trương tôn, nếu thấy khắc hoặc thấy hung triệu, trưởng tử, trưởng tôn sẽ bất lợi.

- Cung Khảm: nếu thấy ngũ kim hoặc cát triệu, chỉ người trung nam có lợi, nếu thấy Thổ khắc hoặc thấy hung triệu, người trung nam có sự ưu phiền.

- Cung Ly: tốt nhất là gặp Mộc sinh, hoặc được cát triệu thì trung nữ có sự vui, nếu gặp khắc hoặc thấy hung triệu, người trung nữ bị tai ách.

- Cung Cấn: thuộc về thiếu nam, gặp được Hỏa sinh, hoặc thấy cát triệu thì tốt cho người thiếu nam, nếu gặp khắc lại gặp hung triệu, người thiếu nam bị tai ách, nếu xem về sinh sản chắc không nuôi được.

- Cung Đoài: thuộc thiếu nữ, nên gặp Thổ sinh, thấy ứng lành người thiếu nữ được an vui hỷ sự, nếu hỏi về bịnh, gặp quẻ Càn nếu bị khắc, bị bịnh ở đầu; Khôn cung thấy khắc, bịnh ở bụng; Chấn thì bị ở chân; Tốn ở vế; Ly ở mắt; Khảm ở tai và huyết; Cấn ở tay, ngón tay; Đoài ở miệng, răng. Nếu khắc tất phải thụ bịnh.

Vả lại trong tám đoạn (tám nguyên nhân) nói trên, đoán là do người có biệt tài chiêm bốc và ý đoán giỏi. Nay dẫn giải pháp thuật tọa đoan, để làm lệ án vậy.(Hình như thiếu cung Tốn)

Pháp Thuật Chiêm Bốc Khắc Ứng

Khắc Ứng có nghĩa là khắc kỳ ứng nghiệm. Trong pháp chiêm bốc nếu không có khắc ứng thì không thể biết được thời kỳ, lúc nào các sự việc cát hung, thành bại, vậy cho nên khắc ứng rất cần thiết cho quẻ. Song le, sự khắc rất khó biện, có lúc dùng số để biện khắc, có lúc dùng lý mà biện khắc, đều phải cần yếu mà bàn đến.

Dùng số mà khắc kỳ ắt phải minh tường cái lý. Như bói xem gia trạch, lúc mới xây cất, nam nữ lúc mới kết hôn. Phần mộ lúc mới chôn. Khí vật, vật dụng lúc mới sắm, đều lấy năm tháng ngày giờ khởi tạo, rồi gia số sự vật mà bố quẻ, đã thành quẻ rồi, xét xem thể Dụng, Hổ Biến toàn quái mà ước định thời kỳ, như xét về sự đoán mau, chậm mà định kỳ.

Như Ốc trạch, phần mộ là thuộc về trường cửu, về ốc trạch phải lấy số của toàn quái mà định thời kỳ chung cuộc của ốc trạch, vì ốc trạch cũng có thời kỳ hủ hoại.

Phần mộ, cũng có thời kỳ hủ hoại, tuy nhiên chiêm về phần mộ chỉ xem cho biết tốt xấu thôi chứ không có định thời kỳ hủ hoại.

Về hôn nhân lâu cũng chẳng qua niên số của quẻ, lấy toàn quái mà đoán, lâu cũng bằng bằng sự trường cửu của ốc trạch vậy. Tuy nhiên, xem hôn nhân chẳng chỉ muốn biết sự tốt xấu mà thôi, chứ không định thời kỳ. Ví bằng muốn biết kỳ tốt xấu thì lấy năm, tháng của quẻ sinh Thể hay tỵ hòa mà định thời kỳ tốt và lấy năm tháng của quẻ khắc Thể mà định thời kỳ không tốt.

Chiêm khí vật như đất đá là chất trường cửu, loài thảo mộc thuộc loại ít lâu bền; lâu thì lấy số toàn quái làm niên kỳ, còn ít lâu thì lấy số toàn quái làm nguyệt kỳ và ít lâu hơn nữa thì lấy số toàn quái làm nhật kỳ.

Như cái nghiên mài mực, thì lấy số toàn quái kể niên kỳ, chí như cái bút mực không lẽ cũng lấy số toàn quái mà kể năm sao? Phải kể là nhật kỳ mới được, như thế gọi là định kỳ, khắc ứng cho khí vật.

Tiên sinh quan Mai và Mẫu đơn, là loài hoa thuộc loại sớm nở chiều tàn, cho nên lấy lý mà suy, thì chẳng có thể nói sự lâu bền dài ngày được.

Lại như ở quẻ Hậu thiên, lão nhân, thiếu niên, gà gáy, bò rống, dùng phương quái hợp với vạn vật quái số mà đoán, các sự vật như lão nhân, thiếu niên, gà gáy, bò rống, đều cũng lấy nhật kỳ mà đoán thôi. Ví như chiêm sự vật gì về loại trường cửu, lấy ngày làm tháng, lấy tháng làm năm.

Như chiêm về sự tầm thường (không quan trọng lắm) mà muốn biết rõ cái sự, muốn định khắc kỳ thì lấy số toàn quái, xét cho kỹ càng, lấy quẻ sinh Thể để định kỳ cát ứng, lấy quẻ khắc Thể định kỳ hung ứng, xa thì lấy số toàn quái kể năm, gần thì lấy số tòan quái kể tháng, còn gần nữa thì lấy số toàn quái mà kể ngày.

Như chiêm cầu danh, nếu Càn là Thể quái, xem trong quẻ có Khôn Cấn, thì đóan tháng ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, vì Càn Đoài thuộc Kim là Thể, là ứng sinh Thể. Ấy gọi là cát sự.

Lại ví như chiêm bịnh, nếu Càn là Thể quái, xem trong quẻ có Ly thuộc Hỏa, trong quẻ không có Khôn, Cấn, tức là quẻ sinh Thể, nếu còn phạm thêm hung triệu nữa, đoán con bịnh phải chết vào ngày Tý Ngọ hoặc Hỏa nhật, như vậy gọi là khắc Thể, ấy là kỳ hung của sự.

Còn như chiêm về hành nhân, lấy ngày của quẻ sinh Thể làm ngày quy kỳ; không có ngày của quẻ sinh Thể và không có ngày của quẻ tỵ hòa, thì về ắt chậm (nghĩa là không có quẻ sinh Thể hay không có quẻ tỵ hòa).

Nói theo luật lệ trên thì hoàn toàn khó tả cho hết. Học giả hãy khảo xét kỹ càng.

Vạn Vật Phú

Nhân sinh thọ bẩm âm dương, quái phân chia ra tiên và hậu.

Thông suốt sự việc đương thời, gần ví chư thân, xa ví chư vật, quan niệm ý thức của vật lý, Tịnh do ở đất, Động do ở trời. Xét vạn vật có số, Dịch số lại vô cùng, động tịnh mà biết được cũng chẳng ra ngoài Huyền thiên. Cát hung tất thấy rõ, chẳng thể tránh khỏi hiện ra trong hào tượng, trước chưa thành quái thì rấp tâm mơ ước cầu ứng nghiệm, sau đã thành quái rồi xem khắc ứng mà đoán cát hung của âm thanh, ngôn ngữ, sâm từ, hình ảnh, vãng lai, triệu chứng, đều do tâm ta chứng nhận được.

Trải qua sáu hào đã định, tam thiên thể hiện, trước tìm cái nguyên nhân của quái tượng, sau đó xét cái chân lý của khắc ứng, xem xét gặp cát triệu, kết cuộc là tốt, thấy hung triệu khó tránh khỏi điều hung.

Muốn biết sự việc của người, ắt hẳn phải dựa vào tai mắt của ta được nghe thấy. Chưa thành quẻ mà đã nghe thấy rồi, nghe thấy là cái cơ vị lai của sự việc.

Cảm nghe thấy sự huyên náo, tức chủ đấu tranh; nghe lời nói vui cười là triệu cát khánh, nghe phụ nhân than khóc thì âm chủ kiến tai; xe tới quan lai ắt thấy quan tư từ tụng; gặp xiềng khóa tức là xiềng xích tâm thân, thoảng gặp roi vọt, vì roi đòn ắt đến kiện thưa; gặp đồ tể khiêng thịt ắt cốt nhục tai ương; gặp huyết quang (gặp thứ gì có huyết, ra huyết), hại về mùa màng súc vật; gặp đồng bóng (thuộc về phù thủy), thầy thuốc, bánh bộ (đồ cho người ốm ăn), bịnh hoạn tâm môn, nghe lời nói bất chính (gian dối) ắt phạm phải gia tiên, gặp rượu thì sai lời nguyện thần linh.

Đàn bà tới, nữ tử thụ ách, đàn ông tới nam tử thọ tai, lại phải xem tượng trong Bát quái, chẳng khá chấp một lối mà bàn luận.

Quẻ tốt gặp hào tượng tốt, tất chẳng có hoạn nạn gì, quẻ xấu gặp triệu hung, không sao tránh khỏi tai nạn. Gặp người bận đồ tang, hoặc đồ âm công tất là điềm tang phục. Cầm trượng ra hiệu là triệu khấp mãn đường. Thấy người buồn tất xảy ra sự buồn; thấy người vui gặp hỷ sự. Xem xét sắc hình để quyết ý đoạn tâm, nghe cổ nhạc huyên thanh cùng thấy tửu bôi trản vật (chén rượu, đồ đựng rượu) chẳng phải nghinh hôn thì cũng tiệc yến.

Muốn biết ứng ngày nào, hãy xem hào tượng định số; Tốn5, Khôn 8, Ly 3, Khảm 6, lại xem xa gần khắc ứng để đích đoán tượng kỳ; ứng xa thì toàn quái tương đồng (theo số của toàn quái); ứng gần thì suy thời mà đoán.

Giả như quẻ Thiên Địa Bỉ, trên Thiên (Càn), dưới Địa (Khôn) là tám; lại gặp Trạch Hỏa Cách, trên Đoài là hai, Ly dưới là ba, cứ thế mà suy, muôn vàn không sai một.

Trên đây là ứng triệu nhân vật, xét suy cho rõ ràng.

Còn như điểu thú ứng triệu thì như: chim khách kêu tất thấy triệu vui mừng; chim quạ kêu là họa sẽ tới. Trâu chó, heo dê gặp ngày Kim thì lục súc sẽ bị tổn. Ngày Mộc thấy heo, nuôi heo tất vượng. Canh nhật thấy gà gáy. Đinh nhật thấy dê vượt qua, là triệu hung nhẫn chỉ sát (chém giết) Tỵ nhật gặp ngựa, Nhâm nhật gặp heo, đều là triệu hưởng lộc thực. Thấy triệu tốt trăm việc đều thông; thấy triệu xấu mọi việc đều trở trệ.

Nhược cầu tài, vấn lợi, dựa theo khắc ứng mà suy, thấy trấp thấy rương đều là dụng cụ chứa tài. Thấy dây thấy lạt, đều là vật xâu tiền (xưa ta hay dùng dây để xâu tiền thành từng chuỗi). Gặp châu báu lụa là, sự viếc đều nên. Gặp đao gặp kiếm thật là tổn hại. Suy xét toàn quái, chớ nên chấp nhất. Gặp tài thì có tài, không gặp tài thì vô ích.

Phàm gặp việc gì nguyên vẹn chỉ sự tất thành, gặp vật hư hao sứt mẻ chỉ việc ắt bại, cho đến việc hôn nhân cũng đều như vậy; gặp vật nguyên vẹn, hôn nhân thành tựu, gặp vật sứt mẻ, nửa đường đứt gánh phu thê.

Thấy củi than, chủ lo âu; thấy lúa chủ bi ai; thấy gạo mới thật kỳ (tốt); thấy đậu tất thương, thấy hài thấy dép chủ sự đều nên; thấy con cờ (kỳ), thấy thuốc (dược), cùng người ước hẹn (kỳ ước); thấy búa, rìu, cưa, đục ắt có việc tu tạo. Cơ trử lương thực là triệu đi xa. Nghe chim kêu mưu sự hư vô; nghe tiếng trống, giao dịch hoàn không. Lau mặt, dụi mày là triệu khóc rống. Cầm dao thấy huyết, đề phòng ngoài có mưu trùng độc.

Khắc ứng đã nói rõ ràng, bây giờ giải bày sự ẩm thực. Thấy nước tức là ăn uống có rượu, thịt nướng. Thấy gạo được ăn; thấy cầm cái nậm, tất được mời uống rượu. Thủy tức được ăn đồ cá tôm, hải vị. Thổ thì được ăn thịt trâu dê và rau, miến canh. Thấy dao, chày đá là được ăn thịt nướng, ấy là khắc ứng tam thiên, thông đạt được sự bí mật then chốt của vạn vật, được như vậy là huyền diệu biết bao.

Ẩm Thực Thiên

- Càn: là tượng của Thiên (trời) bền chắc mà vị thì cay. Là đầu của chim muông (con vật dùng để tế thần) - là ngựa - là heo - Mùa Thu gặp Càn, ăn uống no say; mùa Hạ gặp Càn ăn uống sơ sài; mùa Xuân thì hưởng vật thời tân(*), quả, rau các loại; mùa Đông thì ăn đồ lạnh cách đêm. Nếu cùng Khảm, thì ăn đồ giang, hồ, hải vị. Có Thủy thì ăn rau quả và trân tu (đồ ăn quý lạ).

- Cấn: là Thổ, vật nấu chín - Mùa Thu ăn cua; mùa Xuân ăn thịt ngựa, đồ thịt nhiều mà vị thì cay, dĩa bát dùng toàn đồ kiểu, đồ sứ, ly chén bằng vàng bằng ngà - Rau thì rau cần - Vật thuộc loại có lông - Khắc xuất thì ăn thịt sinh vật như ngỗng, vịt chẳng hạn - Khắc nhập thì ăn đồ rau ráng chốn thôn quê.

- Khôn: là tượng Địa (đất), có viễn khách, cố nhân đến, đồ dùng toàn đồ kiểu, đồ sứ - đồ ăn thì gạo, nếp, trái cây, món làm bằng tay thợ khéo - Tịnh là Lê, táo, ngó sen, măng tre - Động thì cá hộp, dê tươi - Không chả, không nem thì cũng thịt ướp, cũng là dạ dày, lạp xưởng, ruột - Đãi khách lại có đàn bà, khắc có khẩu thiệt - Khắc xuất thì ăn các sinh vật như chim muông. Khắc nhập thì đồ ăn nấu nhiều thứ khác nhau (lẫn lộn) - Thấy có Càn Đoài, ăn đồ thái mỏng, cắt nhỏ - Thấy có Chấn Tốn thì ăn đồ tân sinh, mà nấu theo lối cũ - Sắc đen, vàng, vị thì ngọt - Gặp Thủy Hỏa đồ ăn thì nấu chưng - Tứ thời đều là lúa gạo, lúa mì, ắt lại có mè gừng gia vị.

Phải nên xét kỹ càng, ắt đoán có hiệu nghiệm.

- Tốn: chủ văn thơ (nghĩa là có văn thơ hay danh thiếp mời nhau), thời gian vắt tắt, hòa xướng luận bàn - Có khách lạ, có thông gia, cố nhân cựu giao hoặc chủ có khách xa định kỳ phó hội - Sắc trắng xanh, chỉ tịnh ngay thẳng - vị chua hình tượng dài - Đào, lý, Mộc quả, dưa, đồ ăn chay lạt - Là cá, gà, đậu, miến, chẳng phải là đồ trợ cấp, biếu tặng, mà là đồ ăn tự tay cày bừa lấy mà dùng - Có Đoài, Càn, ăn đến sanh bịnh - Có Khôn đồ ăn tuy không khéo nấu thì cũng rán, rang, rau, dưa thô bạc - Ly thì trà sao, chè - Có Khảm thì có tửu thang, đồ ăn không có sinh vật, nửa chay nửa lạt - Có Cấn, hội lân lý, có quý nhân đồ ăn chẳng nhiều, chỉ vừa thích miệng. Dâu, quít, rau quả có đốt có lóng, đốn hái ở chốn sơn lâm, hổ báo, thỏ nai, chài lưới, bẫy, dò - Gạo, mè, miến, mì - Khắc nhập, đồ ăn nhiều mà khác nhau (lẫn lộn), bị khẩu thiệt, thị phi, âm tai (là đàn bà), kết cuộc chẳng được ăn - Khắc xuất có thịt dê - Vị ngọt, sắc huyền, hoàng (vàng).

- Khảm: tượng Thủy; thủy cận hải nội, hương vị, loài có vảy nhỏ hoặc thú bốn chân; phàm các loài vật ở nước đều là đồ ăn uống. Nơi chốn là chỗ có tiếng tiêu, tiếng sáo, tiếng trống hoặc ở chỗ lễ lạt (ý nói lúc ăn ở chỗ có âm nhạc, hoặc chỗ đám đình) - Sắc đen - Vị mặn - Khắc xuất thì có rượu, đồ ăn có sinh vật như cá, heo - là con mắt, lỗ tai, huyết - Canh nấu vị các vật, rượu, tương - Ngộ Ly, thì bàn luận văn thơ - Gặp Càn thì đồ ăn hải vị.

- Chấn: thuộc Mộc - Bạn rượu thì thô lỗ, quái gở lạ lùng - Quả của cây lớn - Rau ở vườn, rừng - Sắc xanh - Vị chua - Đồ ăn nhiều, khách hội thì ít - Đồ ăn hơi tanh, hôi giống dê, hoặc có đồ nhắm thơm lạ - Với Ly chỉ về muối, trà - Cùng Khảm thì muối và dấm.

- Ly: là giao dịch, văn thơ, hoặc thân thích, sư nho cùng dự tiệc có người lễ mão, trong tiệc có lắm kẻ anh tài - Đồ ăn nướng thui, thỉnh thoảng lại có trà, muối - Tiếp khách giữa ban ngày. Tuy nhiên có dùng nến soi sáng, cuối Xuân đầu Hạ - Phàm vật có hoa - Lão nhân chẳng nên ăn - Tâm sự chẳng yên, trẻ tuổi nên thích đáng - Nên giảng luận hửu ích - Là gà, chim trĩ, cua, rắn - Sắc đỏ, vị đắng - Tính nồng nhiệt khí thơm - Gặp Khảm uống rượu sinh cãi nhau - Gặp Tốn chỉ rau, dưa sao, xào nhi dĩ.

- Đoài: thuộc bạch kim - Vị cay - Sắc trắng- Có bạo khách (kẻ hung bạo) xa tới, hoặc giao tranh với kẻ ở gần kề - Phàm động vật là dao, chày đá - Vị toan đồ cay - Đồ ăn là những thức gói, đùm, ướp muối - Rau, rau phỉ, rau lăng, củ cải, củ ấu, hành - Thịt sống, cá tươi - Vượng thì dê, ngan, ngỗng - Cùng dự tiệc có người vượt quyền hạn của mình, hoặc nữ ca xướng - Đơn (ít) chẳng có khẩu thiệt, trùng (nhiều) được hoan hỷ - Sinh xuất được ăn nhiều - Khắc xuất có hảo sự.

(*) Thời Bài Ca Đoán Các Vật Rất Huyền Diệu

Đoán vật tuy không cần thiết lắm cho đời; nhưng các học giả cũng nên lấy đó mà nghiệm, mới biết Thánh hiền làm Dịch rất linh ứng vậy.

Vật ở đời cũng có số, vì cớ ấy nên:

Trời tròn, đất vuông, đó là hình của vật.
Trời huyền, đất hoàng (vàng), ấy là sắc của vật.
Trời động, đất tịnh, ấy là ngôi thứ của vật.
Càn cương (cứng), Khôn nhu (mềm), ấy là thể của vật.

Vì lý do đó nên bảo:

- Càn: là tròn mà cứng, quý và bền là loài kim, loài ngọc, sắc đỏ, hòn lớn, cái đầu, quả, vật ở trên; thấy Đoài là hủy, chiết; gặp Khảm bị chìm đắm; gặp Ly là loài kim nung luyện; gặp Chấn là vật chuyển động; gặp Tốn là trái cây và tròn; gặp Khôn Cấn chỉ đá ở trong đất; gặp Hỏa thì thành khí vật, Đoài là mũi nhọn của đầu kiếm - Mùa thu mà gặp có giá trị cao, mùa Hạ mà gặp thì suy vậy.

- Khôn: hình thẳng mà vuông, sắc đen và vàng, là văn, vải, xe lớn, búa - Về vật có voi, ngưu (trâu); về tínhcó ác mà động; gặp Càn vừa tròn vừa vuông, khá sang, khá bền; gặp Chấn, Tốn là khí vật dài; gặp Ly là văn chương; gặp Đoài là vàng ở trong đất ra; gặp Cấn thuộc vê loài đá đất cứng rắn.

- Chấn: sắc huyền và vàng mà có nhiều sắc xanh, là cây, tiếng, tre, cỏ lau, cỏ rậm rạp, trên mềm dưới cứng, chấn động, sợ sệt - Gặp Càn vật có giá trị; gặp Đoài cây vô dụng; thấy Cấn đá ở sơn lâm, thấy Khảm loài có hơi (khí); gặp Tốn cành là; gặp Ly có hoa.

- Tốn: sắc trắng, khí thơm, thảo mộc, cứng mềm; thấy Ly thuộc về văn thơ; thấy Đoài Càn cây vô dụng, ắt gặp kim đao; thấy Khôn Cấn loài thảo mộc; thấy Khảm Đoài vật ăn được, dài, thẳng; gặp Chấn, mùa Xuân thì sinh, mùa Hạ thì lớn - Rau quả của loài thảo mộc.

- Khảm: sắc đen, vừa tròn vừa vuông, vật mềm và thối nát, ở trong vật cứng ở chỗ ẩm thấp; phần nhiều là vật ở trong nước - Gặp Càn cứng tròn; thấy Đoài hư nát, ở chỗ nước đục ẩm thấp; gặp Chấn Tốn vật ăn được; gặp Ly là quẻ thủy Hỏa Ký Tế là giả thủy mà xuất, giả hỏa mà thành, lại là vật ứ động không thông được; gặp Đoài có đái khẩu (vật có lỗ, có miệng); cùng Chấn Tốn có cành lá, có bông hoa.

- Ly: sắc vàng, xanh, thể thì khô và dòn, tính thì trên cứng dưới mềm như đá trên núi, loài đồ gốm, đồ sành, đá nhỏ trên núi; chỗ cửa ngõ, đường xá - Gặp Càn thì cứng, gặp Đoài thì hủy nát; gặp Khôn là đất khối; gặp Tốn vật thuộc loài thảo; gặp Chấn loài cây; gặp Khảm vật ở ven sông; gặp Ly đồ gốm; gặp Chấn Tốn vật ở bờ rào, vách, tường, bờ dậu.

- Đoài: sắc trắng, tính ít nhu, nhiều cương, là hủy hoại, gãy nát, mà thấp, loài kim có miệng có lỗ mà tròn - Thấy Càn thì trước tròn, sau khuyết; gặp Cấnlà loài kim, đá vất bỏ (phế khí); thấy Chấn Tốn là vật bóc, lột, vót, gọt; thấy Khảm là vật thuộc thủy; gặp Cấn thì vật cứng nhiều; thấy Khôn mềm nhiều, lớn lên ở trong ao đầm, loài ở trong nước mềm mà được thành khí vật.

 

 tân: vật đầu mùa.

Bài Ca Hưởng Ứng Các Sự Vật

Buổi khai thiên lập địa, lộn xộn mờ mịt nên loài người, sự cát hung hưởng ứng (tiếng vang trở lại, dội lại) càng khó tránh. Tiên hiền xưa đã để sẵn âm luật, cái chuẩn tắc đặt ra Quan Mai, làm ra Chu Dịch, sự nhiệm mầu sâu kín mênh mông, bát ngát, không bờ bến, dặt ra các thuật, nhiều lời nói hay, mà người chẳng ghi chép được.

Đại để Thể cần phải dụng quái sinh, vượng cùng có kế hoạch, mới kết cuộc có ích, tỵ hòa là tốt, khắc là xấu. Thể sinh Dụng cũng là triệu xấu.

Hỏi trời mưa, trời tạnh ráo, nếu khôg có Khảm, Đoài là nắng hạn không mưa; có Khảm, Đoài nói cho cùng thì trời mưa liên tiếp.

Hỏi trời tạnh thì chỉ có Cấn, Ly, Bí quái (tức Sơn Hỏa Bí đáp ứng mà thôi. Càn minh (sáng suốt); Khôn hối (tối tăm); Tốn đa phong (gió to); Chấn chủ sấm sét, định chẳng lầm.

Phàm chiêm nhân sự, Thể khắc Dụng, chủ sự hanh thông, khá may được tỵ hòa là tốt, khắc là hung, lại xét xem trong quẻ có quẻ nào chứng minh trạng thái.

Càn chủ công môn ấy là lão nhân, Khôn gặp âm nhu gọi là Thế ứng. Chấn là phương Đông hoặc ở sơn lâm. Tốn cũng là hoa quả phẩm ở chốn sơn lâm. Khảm thuộc Bắc phương cũng chung hàng rượu, cùng thủy tinh (người có họ tên bộ thủy), cá muối, nên lấy tài năng mà định đoạt. Ly là văn thơ, chỗ lò nung đúc loài kim thì có lợi, cũng gọi là phương Nam, nhan sắc lẫn lộn khác nhau. Cấn thuộc Đông Bắc mà cũng là sơn lâm tài(*). Đoài là phương Tây, cũng là chốn vui mừng thỏa đáng; sinh Thể, khắc Thể ghi chép lại để làm ứng chủ sự.

Phàm chiêm gia trạch, Thể quái là chủ, vượng tướng nên hiểu biết đó là lợi điều tài. Sinh Dụng bị hao tài của tán. Tỵ hòa gia thế yên vui, khắc thể là hung.

Đoán về sinh sản, Thể quái là mẹ, lưỡng nghi (cả hai mẹ lẫm con), phải sinh vượng, chẳng nên suy. Xét sự kỳ ngộ để xem trai hay gái, quẻ Càn thì dương, Khôn là âm, lại xem người đương thời (nghĩa là xem số người chẵn hay lẻ, hoặc nhiều nam hay nhiều nữ), cũng tìm xem hào nội, nhiều âm thì gái, nhiều dương thì trai. Theo số ấy, cái lý rõ ràng của Dịch.

Chiêm hôn nhân, Thể sinh Dụng tất nan thành, tỵ hòa, khắc Dụng đại cát lợi.

Chiêm ẩm thực, Dụng sinh Thể, cỗ bàn thịnh soạn, sinh Dụng khắc Thể ẩm thực tất nan; khắc Dụng ắt không, tỵ hòa ắt có Khảm, Đoài là rượu, Chấn là ngư (cá), tùy suy, vượng Bát quái mà dò xét.

Chiêm cầu mưu được xứng ý là tỵ hòa; Thể khắc Dụng thì mưu sự chậm. Cầu danh có Thể khắc Dụng nên danh; Dụng sinh thể hay tỵ hòa cũng tốt. Cầu tài, Thể khắc Dụng có tài ngay; Dụng sinh Thể hoặc tỵ hòa, ắt xứng ý.

Giao dịch, Dụng sinh Thể hoặc tỵ hòa ắt có lợi, chắc chắn khỏi lo về sau.

Xuất hành, hể khắc Dụng, hoặc Dụng khắc Thể rất được vừa ý, chỗ nào mình muốn tới; Khảm nên đi bằng thuyền; Ly nên lên đường sớm; Càn Chấn thì nên động; Khôn Cấn thì nên ngừng.

Còn hành nhân, Thể khắc Dụng sẽ về chậm, sinh Thể với tỵ hòa ắt người về sớm. Hàm tốc (quẻ Trạch Sơn Hàm) thì về mau; Hằng từ (quẻ Lôi Phong Hằng) về chậm; Thăng (quẻ Địa phong Thăng) chẳng về; quẻ Cấn bị trở ngại; quẻ Khảm ắt có hiểm họa, người nên nhìn kỹ.

Yết kiến muốn được gặp người, cần nên Thể khắc Dụng hoặc tỵ hòa, hay Dụng sinh Thể, gặp ngay được việc. Đoài chủ ngoại kiến; Tụng (quẻ Thiên Thủy Tụng) bất thân (không thân thiết lắm); Càn thì lợi đại nhân, trưởng giả.

Xem thất vật, Thể khắc Dụng, nên mau chóng kiếm tìm, theo quái tương sinh,tỵ hòa, của mất sẽ tìm thấy; Đoài tìm ở chỗ đổ nát, bờ ven giếng; Ly nên ở chỗ lò bếp phía Nam; Khôn thì ở vật vuông, dựa vào đó mà tìm.

Bịnh tật rất nên Thể vượng tướng, Thể khắc Dụng bịnh uống thuốc lành ngay, tỵ hòa ắt có cứu tinh. Thể quái mà thụ khắc, ắt là hung triệu; Ly nên uống thuốc chsn; Khảm nên uống thuốc lạnh; Khôn Thổ quái, nên ôn thổ, liệu phanh (điều thuốc nấu).

Bàn về vương vấn quỷ thần, nên lấy quái tượng mà suy, Chấn chủ hình dạng yêu quái; Tốn thì tự ải gông cùm; Khảm Cấn thì bị kẻ trầm mình và huyết nhục.

Chiên tụng sự, Dụng quái nên bị khắc, thể quái vượng tướng, chung quy đắc lý, chẳng cần người giúp sức.

Nhược xem mồ huyệt (mồ mả) ở tại chốn nào; Khảm mai táng ở chỗ đồng bằng; Tốn chôn ở chốn rừng núi; Càn ở chỗ cao ráo; Cấn ở núi; Ly ở thôn quê; Đoài bị tàn phế; tỵ hòa và sinh Thể chỗ chôn rất tốt; khắc Dụng lại rất tốt lợi.

Nhược nghe chuyện trò, phô nói vui cười, gà gáy đều ứng tốt. Vật cũng ứng điềm lành, suy lược chỉ có một lời mà suốt muôn vật.

(*) Tài: Vật của trời sinh có thể dùng được như: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Chư Quái Đối Nghĩa Tính Tình

Càn cương Khôn nhu nghĩa đối nhau,
Tỷ quái hân hoan, Khổn lo âu.
Lâm gặp việc hay Quan phải cầu,
Mông quái khó thông Truân chẳng mất.
Đại súc sanh phúc Vọng (Vô vọng) họa lai,
Thăng đã đi không hề trở lại,
Tụy thì xum họp chẳng lúc rời,
Khiêm vốn tự tôn, Dữ đãi(1) nhân.
Chấn hay dấy động Cấn ngăn ngừng,
Đoài chủ ngoại ngộ, Tốn nội tàng.
Tùy trước Khảm sau vô chí hướng,
Bác thể tiêu tan, Phục hồi sinh.
Cổ thì sẵn tính hay hối cãi,
Minh Di nội lãng, lại phùng Thương.
Tấn chủ ngoại minh tinh thông lý,
Ích thịnh vượng Tổn suy vi.
Hàm mau, Hằng chậm Hoán xa lánh,
Đồng nhân nội thân Khuê ngoại sơ.
Giải thung dung Kiển khó mở mang,
Ly văn mỹ lệ, Cấn quang minh.
Độn chỉ thối thân, Cấu tượng ngô,
Đại hữu chúng đa, Phong lắm kẻ(2).
Khảm rủi thay gặp nhiều cản trở,
Cấn thì dấy động chẳng lúc ngừng.
Nhu bất tiến Tụng chẳng được an,
Ký tế nhất định vô hậu Lữ.
Quy muội trước tiên là phụ nữ.
Vị tế sau cùng lại phái nam,
đi khỏi, chắc chẳng muốn về.
Thái đã về thì chẳng muốn lại,
Cách khử cựu, Đỉnh(3) lại tòng tân.
Tiểu súc là quả (góa, ít) Hạp là ăn,
Đại quá lại điên đảo khốn đốn.
Quái mới thật rõ ràng khoái lạc,
Nên đem từng chữ xét tinh tường,
Đối nghĩa tính tình từng quẻ một.

Ghi chú:
(1) Đãi: đãi ngộ người.
(2) Lắm kẻ: nhiều người.
(3) Đỉnh: đổi ra mới.

Các tin khác
Độc lục nhâm thái ất - Lời dặn Dịch lý và phương pháp luận Chu Dịch với dự đoán học Mai hoa dịch số (P11) Mai hoa dịch số (P10) Mai hoa dịch số (P9) Mai hoa dịch số (P7) Mai hoa dịch số (P6) Mai hoa dịch số (P5) Mai hoa dịch số (P4)
Giỏ hàng
Hỗ trợ trực tuyến
Pháp Sư Trần Ngọc Kiệm 0913290384
Thầy Tạ Minh Tuấn 0939965885
Sản phẩm mới
Thống kê
88
Đang xem
4,322,800
Lượt truy cập

THẠCH ANH TÍM THẦN QUY TRẤN YỂM CÁC LỖI PHONG THUỶ TRỤ THẠCH ANH CẦU ĐÁ PHONG THỦY


Copyright © 2011 PhucLaiThanh.com - Thiết kế và phát triển bởi Bambu®